Đồng chí Trường Chinh với sự nghiệp dân vận của Đảng, suốt đời vì hạnh phúc nhân dân (kỳ 1)
Cập nhật lúc06:02, Thứ Năm, 26/11/2020 (GMT+7)

TS. Nguyễn Văn Hùng

Đồng chí Trường Chinh (1907-1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9-2-1907, ở thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đồng chí Trường Chinh sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước ở một vùng quê giàu truyền thống lịch sử văn hóa. Truyền thống của quê hương và gia đình đã giáo dục, rèn luyện và hun đúc nên lý tưởng cách mạng của đồng chí. Năm 18 tuổi, đồng chí đã tham gia phong trào yêu nước rồi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, từ một người yêu nước, trở thành người cộng sản. Trong mười năm hoạt động đầu tiên, khi bị bắt, ở tù cũng như lúc hoạt động công khai, đồng chí đã đem hết nghị lực, trí tuệ và nhiệt tình cách mạng tham gia truyền bá chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần bồi dưỡng lý luận và tinh thần cách mạng cho đông đảo cán bộ và nhân dân, trong đó có nhiều người đã trở thành cán bộ cốt cán của cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Thọ đọc báo Sự Thật tại Chiến khu Việt Bắc, năm 1948.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Thọ đọc báo Sự Thật tại Chiến khu Việt Bắc, năm 1948.

Khi Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, địch tăng cường khủng bố, hầu hết các ủy viên Trung ương bị bắt, bị giết, nhiều tổ chức đảng và quần chúng bị phá vỡ. Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (11-1940) cử ra chỉ còn lại ba người. Với cương vị Quyền Tổng Bí thư ở giai đoạn cực kỳ khó khăn này, đồng chí đã cử cán bộ đi chắp nối liên lạc, khôi phục tổ chức; cử người sang Quảng Tây liên hệ và đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Phong trào cách mạng dần dần được khôi phục và củng cố, chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa. Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Trường Chinh được bầu chính thức làm Tổng Bí thư của Đảng. Sau Hội nghị, đồng chí rời Pác Bó về xuôi trực tiếp chỉ đạo phong trào, đề ra sáng kiến lập hệ thống liên hoàn các An toàn khu (ATK). Từ tháng 8-1942 đến tháng 7-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh đi Trung Quốc và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 14 tháng; đồng chí Hoàng Văn Thụ bị địch bắt và xử bắn; đồng chí Hoàng Quốc Việt được cử đi công tác nước ngoài. Trách nhiệm to lớn của Đảng và cách mạng gần như đặt lên vai đồng chí Tổng Bí thư. Với trí tuệ thông minh, sắc sảo, khả năng ứng phó nhanh nhạy, đồng chí cùng Trung ương đã có những quyết định quan trọng đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên những bước nhảy vọt. Nổi bật nhất là việc đồng chí dự báo việc Nhật - Pháp bắn nhau và sớm chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chỉ thị đã chỉ rõ thời cơ đang đến và có tác dụng quyết định trong việc động viên hướng dẫn toàn Đảng, toàn dân trong cao trào chống Nhật cứu nước. Tại Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, đồng chí được cử phụ trách ủy ban tổng khởi nghĩa toàn quốc và 11 giờ đêm ngày 13-8-1945, ủy ban đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Chỉ trong thời gian ngắn, Cách mạng Tháng Tám đã thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cống hiến nổi bật của đồng chí Trường Chinh trong giai đoạn này chính là cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề ra đường lối của giai đoạn cách mạng mới ở Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương và đồng chí Trường Chinh là người trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí cùng tập thể Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến. Quan điểm của Đảng về cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ được đồng chí Trường Chinh giải thích và phát triển trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tác phẩm đã trình bày một cách sáng tỏ các chặng đường của cuộc kháng chiến, củng cố niềm tin và nâng cao ý chí của mọi người. Trong thực tiễn, không những đồng chí chú trọng chỉ đạo nhiệm vụ kháng chiến, mà còn hết sức chú ý đến mặt kiến quốc, từng bước thực hiện khẩu hiệu "Người cày có ruộng" chuẩn bị những tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ những chủ trương, đường lối đúng đắn đó, cùng với thực tiễn sinh động, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã giành thắng lợi to lớn, ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc ta.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với cương vị là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, rồi sau đó là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị có những đóng góp không nhỏ vào việc chuẩn bị và đưa ra những quyết sách chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cống hiến đặc biệt quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đi vào tiềm thức của nhân dân ta chính là đồng chí đã đặt nền móng cho công cuộc đổi mới. Năm 1986, trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã sớm nhận rõ được xu thế của thời đại, thực trạng của đất nước, yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân, đề ra chủ trương đổi mới. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí đã nói: "Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn". Đại hội VI đã trở thành đại hội đổi mới, đánh dấu một mốc son mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam, một bước ngoặt về đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta.

Trong công tác dân vận của Đảng, đồng chí Trường Chinh luôn luôn yêu cầu và khẳng định các quan điểm cơ bản sau đây:

Một là, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân là lực lượng, là người tiến hành mọi nhiệm vụ, mọi công việc của sự nghiệp cách mạng. Đảng ta phải luôn luôn lấy mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân làm trọng.

Hai là, đổi mới tư duy của Đảng đối với công tác quần chúng, công tác Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; tăng cường xây dựng, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Đảng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước.

Ba là, trong xã hội ta do nhân dân làm chủ, công tác vận động và tổ chức nhân dân chỉ có thể thành công khi trước hết bảo vệ và đáp ứng được trên thực tế lợi ích thiết thân của người dân, kết hợp hài hòa với lợi ích của tập thể, của Nhà nước và toàn xã hội, gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Bốn là, phải dựa vào dân để xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đồng thời phải phê phán tệ quan liêu, xa rời quần chúng trong cán bộ, đảng viên. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân theo hướng sát với thực tế địa phương, cơ sở, phù hợp với từng đối tượng quần chúng và các giai tầng trong xã hội; lãnh đạo chặt chẽ công tác phát triển các tổ chức quần chúng và đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân một cách thiết thực, hiệu quả, tránh bệnh hình thức chủ nghĩa.

Năm là, công tác vận động quần chúng là trách nhiệm chung của toàn Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Đảng làm công tác dân vận bằng hệ thống tổ chức của Đảng và bằng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, thông qua hệ thống Nhà nước, hệ thống Mặt trận và các đoàn thể là cầu nối để thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Đảng. Đảng cần quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, nhất là cán bộ đoàn thanh niên; lãnh đạo chặt chẽ các tổ chức quần chúng tự đổi mới nội dung và phương thức hoạt động cho phù hợp sở thích, tâm lý, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân.

(còn nữa)

,
,
.
,
,
,
,