Nhớ lần Bác Hồ về dự Đại hội Đảng bộ tỉnh
Cập nhật lúc08:02, Thứ Năm, 24/09/2020 (GMT+7)

Sau Đại hội đại biểu lần thứ III của Đảng (1960), miền Bắc được xác định là hậu phương lớn của cả nước, tập trung thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, với nhiệm vụ chủ yếu là phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN, vừa sản xuất, vừa chiến đấu và tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam. Để lãnh đạo, chỉ đạo và chuẩn bị tốt mọi mặt cho cuộc chiến đấu lâu dài, từ ngày 15 đến ngày 21-5-1963, tại hội trường Nhà máy Liên hiệp Dệt Nam Định, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ IV. Trong ngày cuối cùng của Đại hội (21-5-1963), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về dự và phát biểu với Đảng bộ chỉ ra nhiều giải pháp, cách làm nhằm đưa kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.

Bác Hồ về dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ IV, tháng 5-1963. Ảnh: Tư liệu
Bác Hồ về dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ IV, tháng 5-1963.
Ảnh: Tư liệu

Trước hết, Bác khẳng định Đại hội đã căn cứ Nghị quyết Trung ương 8 và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất để bàn bạc kỹ nên có nhiều thuận lợi. “Trong mấy năm qua Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đã cố gắng vươn lên và đã thu được một số thành tích về các mặt”. Trên lĩnh vực nông nghiệp, Bác khen các HTX đã được củng cố hơn trước, các cấp uỷ đã vận động đồng bào lương và giáo xây dựng được những hợp tác xã tốt, như HTX Đồng Quỹ, Đài Môn, Tân Khang, Đại Đồng, Thượng Lỗi... Nhờ các HTX đã được củng cố nên trong 2 năm qua, tuy bị thiên tai 3 vụ, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển cả về năng suất, diện tích và sản lượng. Năng suất bình quân trong 2 năm 1961-1962 đạt 19,7 tạ/mẫu, tăng 37 kg/sào. So với hồi Bác về thăm tỉnh năm 1958, thì đến nay, 3 huyện miền đồng chiêm đã có phong trào đắp bờ khoanh vùng, cấy cưỡng tốt hơn; đã biến hơn 12 nghìn mẫu một vụ thành 2 vụ. Việc trồng màu gần đây đã được chú ý, nhờ đó lương thực 2 năm qua có tăng, đời sống của nhân dân tuy còn khó khăn nhưng nói chung đã được ổn định hơn trước. Bác dẫn một số ví dụ cụ thể như xã Trực Bình (huyện Trực Ninh) bình quân diện tích đầu người chỉ non 2 sào, nhưng nhờ đồng bào đã ra sức trồng nhiều khoai nước mà đàn lợn đã tăng gần gấp đôi. Nhờ có nhiều lợn mà có nhiều phân; nhờ có nhiều phân mà năng suất lúa tăng 54 kg/sào. Năng suất tăng dẫn đến lương thực cũng tăng. Năm 1960, bình quân đầu người đạt 323kg, năm 1962 đạt 462kg. Theo Bác, đó là một kinh nghiệm tốt.

Về cải tiến công cụ cũng có những kinh nghiệm tốt như huyện Nghĩa Hưng trước kia phải tốn một triệu ngày công để chuyển hơn 220 nghìn tấn phân ra đồng, nay nhờ dùng thuyền và xe đã bớt được 110 nghìn ngày công. Xã Giao Hải (Giao Thuỷ) nhờ phát triển thuyền mà vụ chiêm năm 1962 gặt nhanh hơn vụ chiêm năm 1961, lại dôi được hơn 4.000 ngày công. Như thế là vừa đỡ tốn sức lao động, vừa tiết kiệm được nhiều ngày công để dành cho các công việc khác. Mặt khác, các nhiệm vụ đối với Nhà nước như nộp thuế, trả nợ và thu mua trong năm 1962 của địa phương cũng đã hoàn thành khá nhanh gọn.

Cùng với việc khẳng định những kết quả đạt được, Bác cũng chỉ ra những tồn tại, thiếu sót cần phải khắc phục như việc trồng hoa màu còn quá ít. Nam Định trước đây là địa phương có tập quán trồng dâu nuôi tằm, nhưng đến năm 1963 mới khôi phục được 1/5 diện tích. Trong tỉnh vẫn còn 30% diện tích ruộng cấy chay, năng suất tăng chậm… Bác chỉ rõ nguyên nhân những việc Trực Bình, Giao Hải và huyện Nghĩa Hưng làm được mà các nơi khác lại không làm được, là vì cán bộ các nơi chưa biết học tập những kinh nghiệm tốt từ những điển hình đó. Từ đó Bác chỉ đạo các cấp uỷ phải vận động nhân dân trồng nhiều hoa màu hơn nữa, nhất là khoai nước và dong riềng, để có thêm lương thực cho người và thức ăn cho gia súc. Đồng thời phải vận động đồng bào trồng nhiều cây công nghiệp ở những nơi có điều kiện, như trồng cói, trồng dừa... trồng cây ăn quả như cam, chanh, chuối... và trồng cây lấy gỗ như xoan, tre... Phải ra sức phát triển chăn nuôi để có thêm sức kéo, thêm phân bón, vừa tăng thu nhập, vừa có thêm thịt để cung cấp cho nhân dân. Nam Định cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc cải tiến kỹ thuật để phát triển nông nghiệp. Trong thuỷ lợi, phải coi trọng cả thủy lợi lớn, thủy lợi vừa, đồng thời phải làm nhiều thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc khoanh vùng, đắp bờ, chống úng ở các huyện phía bắc tỉnh và chống chua mặn ở các huyện ven biển. Về phân bón, Bác nêu điển hình HTX Tân Khang là đơn vị đã có thành tích khá, cần phát động thành phong trào mạnh mẽ. Bác nói: “Một vốc phân là một cân thóc”. Muốn có nhiều hoa màu, nhiều khoai, thì nhất định phải dùng nhiều phân bón”. Bác cũng nhận thấy một đặc điểm của Nam Định là “người đông ruộng ít”, mặc dù trong Đại hội đã bàn đến cuộc vận động đồng bào đi xây dựng kinh tế miền núi, miền biển, nhưng theo Bác “cần phải có kế hoạch thật đầy đủ để thực hiện cho thật tốt”.

Một trong những nội dung Bác nhấn mạnh là phải “tiến hành cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, cải tiến kỹ thuật”, nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc và chỉ đạo “Các cô, các chú cần phải thực hiện đúng và tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề này. Tỉnh uỷ, huyện uỷ, đảng uỷ xã phải trực tiếp lãnh đạo. Cán bộ tỉnh và huyện phải phân công đến tận HTX, thực tế cùng cán bộ cơ sở làm việc. Đi bước nào phải thật vững chắc bước ấy. Làm nơi nào phải thật tốt nơi ấy. Không lề mề nhưng không nóng vội”.

Bác cũng lưu ý Nam Định là tỉnh có đông đồng bào Công giáo, các cấp uỷ phải thật quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào. Bác dẫn số liệu, trong tỉnh đã có 62% hộ giáo dân vào HTX; có những HTX khá tốt như Đài Môn, Đồng Quỹ, Uý Như Nam... và chỉ đạo: “Đồng bào Công giáo càng hiểu rõ chính sách của Đảng thì càng gắn bó với HTX, cho nên phải ra sức giúp đỡ củng cố và phát triển tốt các HTX của đồng bào Công giáo nhằm làm cho HTX ngày càng vững chắc, xã viên thu nhập ngày càng tăng, đời sống ngày càng ấm no hơn”.

Về lĩnh vực công nghiệp, Bác khẳng định trong 2 năm qua, sản xuất có phát triển tiến bộ hơn trước. Công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp gần đây cũng đã bước đầu có cố gắng phục vụ nông nghiệp như sản xuất vôi, phân bón, chế biến dong riềng và khoai nước, sản xuất hàng tiêu dùng cho nông dân. Bác gửi lời khen công nhân và cán bộ Nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định, năm 1962 đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước và động viên năm nay (1963) càng phải cố gắng hơn, ra sức thi đua với Nhà máy Dệt Bình Nhưỡng (Triều Tiên) để hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1963 và kế hoạch 5 năm. Bác còn chỉ rõ lĩnh vực thủ công nghiệp là một bộ phận quan trọng trong kinh tế Nhà nước và có quan hệ đến đời sống của hàng vạn đồng bào. Tỉnh Nam Định có gần 6 vạn người làm nghề thủ công nghiệp, đã vào hơn 270 HTX. Về mặt tổ chức như thế là tốt, nhưng về mặt quản lý thì còn nhiều khuyết điểm, phổ biến là chất lượng quản lý thấp kém, sổ sách luộm thuộm, thiếu dân chủ, tệ tham ô, lãng phí, quan liêu… còn xảy ra ở một số HTX như Quang Trung, Rạng Đông, Thép Mới, Thắng Lợi, Đồng Tâm... Từ thực tế đó, Bác mong các cấp uỷ cần phải giúp các HTX thủ công chấn chỉnh lại cho tốt. Cán bộ và công nhân đều phải ra sức thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hơn nữa để nâng cao năng suất lao động, sản xuất được nhiều, nhanh, tốt, rẻ phục vụ nhân dân. Để thiết thực đẩy mạnh phát triển kinh tế hơn nữa thì Tỉnh uỷ, các đảng uỷ và cán bộ phụ trách các cơ quan, xí nghiệp, công thương và mậu dịch cần phải thực hiện có kết quả tốt cuộc vận động “nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”. Phải biết kết hợp chặt chẽ 3 cuộc vận động này với phong trào thi đua thực hiện thắng lợi Kế hoạch Nhà nước năm 1963 và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Với các ngành kinh tế, văn hoá khác, cùng với việc khẳng định đã đạt được những thành tích khá, Bác cũng chỉ ra những tồn tại cần khắc phục, như: Giao thông vận tải đã cố gắng phát triển ở nông thôn, nhưng vận tải đường sông thì còn kém. Giáo dục phát triển khá về số lượng, nhưng kém về chất lượng, vì thiếu giáo dục chính trị và đạo đức cách mạng cho học sinh. Phong trào vệ sinh phòng bệnh cũng đã có những nơi làm tốt, như xã Nghĩa Phú (Nghĩa Hưng). Phong trào bảo vệ trị an cũng đạt kết quả khá, dân quân tự vệ có tiến bộ, nhưng còn phải cố gắng nhiều…

Đặc biệt, về công tác lãnh đạo, Bác chỉ rõ Nam Định có hơn 1 triệu dân, có gần 25 nghìn đảng viên và hơn 36 nghìn đoàn viên thanh niên lao động; tức là cứ 100 người thì có 2 đảng viên và 3 đoàn viên, như thế là còn ít; đảng viên nữ có 2.554 đồng chí, cũng là quá ít; cần phải có kế hoạch chu đáo để phát triển Đảng và Đoàn hơn nữa. Đồng thời phải rất chú trọng củng cố chi bộ. Đồng bào Nam Định rất chất phác, cần cù, lại có truyền thống anh dũng trong thời kỳ trước cách mạng và kháng chiến. Cán bộ nói chung đều tận tuỵ, cho nên tỉnh đã có thành tích về các mặt công tác. “Nhưng chúng ta phải thật thà nhận thấy rằng thành tích còn ít và tiến bộ còn chậm, vì lãnh đạo còn yếu”. Sự thật là sinh hoạt ở nhiều chi bộ còn chưa tốt, việc giáo dục đảng viên chưa chặt chẽ, kịp thời. Có cán bộ, đảng viên còn lãng phí nhiều trong việc cưới xin, ma chay trong gia đình. Thậm chí có đảng viên còn nấu rượu lậu, vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, đánh mất đạo đức cách mạng của người đảng viên, gây tiếng xấu trong quần chúng. Do đó, “các cấp, từ chi bộ đến Tỉnh uỷ phải vì lợi ích chung của Đảng và nhân dân mà tự phê bình một cách thành khẩn và thẳng thắn. Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ phải luôn luôn tự hỏi mình đã xứng đáng với vai trò lãnh đạo của Đảng hay chưa”, để tiếp tục phấn đấu. Bác còn đề cập và nhấn mạnh đến tinh thần đoàn kết, dân chủ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Theo Bác, làm tốt vấn đề này sẽ có tác động đến các ngành, các cấp trong tỉnh, đến việc thực hiện các chủ trương công tác chung của địa phương. Trong lãnh đạo cần tránh chung chung, hình thức, lãng phí công sức của nhân dân, mà phải đi sâu, đi sát, chú ý việc nêu gương điển hình, tập trung thường xuyên vào công tác trọng tâm; “phải luôn luôn thật thà tự phê bình và nghiêm chỉnh phê bình để cùng nhau tiến bộ”.

Những lời phát biểu của Bác tại Đại hội lần thứ IV của Đảng bộ hầu như đã đề cập toàn diện đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh. Vấn đề nào quan trọng Bác nhấn sâu, nói kỹ; các nội dung khác Bác điểm xuyết, có các số liệu chứng minh đầy đủ. Tính khái quát và trọng tâm, trọng điểm được thể hiện rất rõ ràng. Điều đó cho thấy Bác đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu kỹ càng trước khi đến dự Đại hội. Đặc biệt trong mỗi lĩnh vực, cùng với việc khẳng định những thành tích, cố gắng đạt được, Bác cũng nêu ra những hạn chế tồn tại, nhưng không thuần túy dừng lại ở đó mà tích cực hơn, Bác còn phân tích, chỉ ra những nguyên nhân, giải pháp, cách làm để khắc phục. Có nội dung Bác chỉ đạo quyết liệt, cụ thể, nhưng cũng có nội dung Bác nhẹ nhàng mong muốn mọi người hiểu để rút kinh nghiệm làm tốt. Qua phát biểu của Bác, người nghe phấn khởi tự tin với những thành tích đã đạt được, thoải mái tiếp thu những mặt hạn chế và trăn trở trách nhiệm tìm hướng giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Thông qua những lời phát biểu tâm huyết đó thể hiện rõ mong muốn của Bác là sau Đại hội “Toàn Đảng bộ Nam Định sẽ ra sức khắc phục khuyết điểm, phát triển ưu điểm, đoàn kết một lòng, thực hiện đầy đủ mọi nghị quyết của Đại hội, biến nghị quyết đó thành quyết tâm của đảng viên, đoàn viên và đồng bào cả tỉnh, để xây dựng tỉnh Nam Định thành một tỉnh giàu mạnh, làm kiểu mẫu cho toàn miền Bắc, thiết thực góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”. Sau 57 năm nhìn lại, chúng ta vẫn thấy với mỗi vấn đề, mỗi luận điểm trong lời phát biểu của Bác đều như còn mới mẻ, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, học tập để phấn đấu làm tốt hơn./.

 Nguyễn Kim Chiến
(Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

,
,
.
,
,
,
,