Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong phòng, chống thiên tai
Cập nhật lúc08:14, Thứ Sáu, 08/04/2022 (GMT+7)

Những năm qua, do tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai xảy ra ngày càng có xu hướng cực đoan, bất thường cả về cường độ, tần suất và không tuân theo quy luật. Bởi vậy, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) với các giải pháp thiết thực là một trong những hướng đi đang được tỉnh ta quan tâm nhằm giảm thiểu thiệt hại rủi ro vì thiên tai.

Tuyến đê kiểu mẫu đoạn qua xã Xuân Châu (Xuân Trường).
Tuyến đê kiểu mẫu đoạn qua xã Xuân Châu (Xuân Trường).

Cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tỉnh đã chú trọng đầu tư về hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác phòng chống thiên tai (PCTT) góp phần tích cực trong chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa. Đặc biệt, với sự hỗ trợ từ Trung ương, các tổ chức quốc tế và nguồn lực của tỉnh, việc ứng dụng tiến bộ KHKT vào hoạt động quan trắc cảnh báo thiên tai ngày càng hoàn chỉnh; mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn (KTTV) tự động như: máy đo gió, máy đo khí áp, máy đo độ ẩm, thiết bị đo dòng chảy ADCP… đảm bảo cung cấp kịp thời thông tin tham mưu phục vụ lãnh đạo các cấp chỉ đạo điều hành. Trong năm 2021, tỉnh đã tiếp nhận thêm 10 trạm đo mưa tự động tại các huyện, thành phố do Quỹ Cộng đồng Phòng tránh thiên tai tài trợ, nâng tổng số trạm đo mưa tự động của tỉnh lên 24 trạm đan dày mạng lưới đo mưa tự động. Dữ liệu do các trạm đo mưa chuyên dùng tự động liên tục được cập nhật kết nối với ứng dụng trên thiết bị di động giúp cán bộ theo dõi có thể trích xuất mọi thông tin cần thiết đảm bảo nhanh, chính xác phục vụ công tác dự báo và PCTT của tỉnh, nhất là khi có mưa lớn xảy ra. Thời gian gần đây, tỉnh đã đầu tư chiều sâu trong công tác PCTT các công trình đê điều, thủy lợi trọng điểm trên địa bàn đã được cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới đảm bảo yêu cầu PCTT, ứng phó hiệu quả với tình hình biến đổi khí hậu phức tạp. Sở NN và PTNT đã hoàn thành việc lắp đặt các thiết bị theo dõi mực nước, các đoạn đê kè, cống xung yếu tại 7 điểm trên các tuyến sông Đào, Đáy, Hồng, Ninh Cơ, cống Thanh Niên và các khu neo đậu tàu, thuyền của tỉnh; lắp đặt 9 camera theo dõi đê điều, 4 vị trí camera theo dõi công trình PCTT giám sát trực tuyến các khu vực trọng yếu PCTT. Tất cả hình ảnh, dữ liệu tổng quan công trình đê điều, cao trình mặt nước, mực nước sông và việc đóng mở cống… được cập nhật liên tục và truyền về Văn phòng thường trực Ban Chỉ huy PCTT và Tìm kiếm cứu nạn (TKCN) tỉnh để nắm bắt kịp thời, phục vụ công tác chỉ đạo điều hành trong PCTT của các cấp từ Trung ương đến tỉnh, huyện và cấp xã. Ngoài ra, tỉnh còn được Tổng cục PCTT (Bộ NN và PTNT) hỗ trợ tập huấn, phổ biến kinh nghiệm; trang bị 2 thiết bị flycam, 2 máy đo độ sâu phục vụ công tác chỉ đạo điều hành PCTT. Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quan trắc tài nguyên và môi trường, Trung tâm quan trắc và phân tích Tài nguyên Môi trường (Sở TN và MT) đã xây dựng hệ thống quản lý theo quy trình VILAS. Trên cơ sở trang thiết bị, máy móc được đầu tư đồng bộ cùng với đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đã xác định, đánh giá chính xác hiện trạng môi trường, từ đó đề xuất những biện pháp, giải pháp hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu và PCTT.

Bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị hiện đại PCTT, tỉnh còn chỉ đạo Đài Khí tượng thủy văn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ nghiệp vụ như: công nghệ tổng hợp dữ liệu, mô hình hoá các phương án dự báo thủ công thực hiện trên giấy sang sử dụng trực tiếp trên máy tính. Đồng thời, chủ động tiếp cận, khai thác ứng dụng có hiệu quả các công cụ dự báo, phương án dự báo, mô hình dự báo khí tượng như: mô hình hạn vừa châu Âu, SYNOP GIS, JMA, GFS, KMA công cụ dự báo điểm 10 ngày; phần mềm xem ảnh mây vệ tinh Himawari 8, DROVAK... để cập nhật các yếu tố thời tiết như: mưa, nhiệt độ, độ ẩm, gió trên các mực khí áp giúp chất lượng dự báo các bản tin hạn ngắn (hàng ngày 12-24 giờ) đạt 85%, hạn vừa (3-10 ngày) và hạn dài (tháng, mùa, khí hậu) đạt 78%. Từ đó góp phần thực hiện tốt công tác tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch PCTT và TKCN. Thời gian qua, một số sở, ngành liên quan cũng thực hiện một số đề tài khoa học và công nghệ phục vụ công tác PCTT. Tiêu biểu là đề tài “Nghiên cứu đề xuất hệ thống cảnh báo, dự báo sớm cấp độ rủi ro thiên tai do ngập úng và xâm nhập mặn tại tỉnh Nam Định” được Đài Khí tượng thủy văn thực hiện từ năm 2021 đến năm 2023. Kết quả của đề tài sẽ đưa ra các sản phẩm là: bộ bản đồ nguy cơ ngập úng với tần suất 1%, 5%, 10%; bộ bản đồ phân vùng cảnh báo xâm nhập mặn; bộ dữ liệu và công cụ quản lý cơ sở khí tượng thủy văn phục vụ nghiên cứu dự báo, cảnh báo ngập úng, xâm nhập mặn cho tỉnh. Đồng thời đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình trong quy hoạch mạng lưới cấp, thoát nước, cơ sở hạ tầng thích ứng, phòng chống ngập úng, xâm nhập mặn của tỉnh. Liên hiệp các hội KH và KT tỉnh thực hiện đề tài ứng dụng công nghệ Web-GIS (hệ thống thông tin địa lý hoạt động trên nền tảng web) để “số hóa” toàn bộ cơ sở dữ liệu đê điều, bao gồm các phân hệ: bản đồ, quản lý (mặt cắt, vi phạm, kế hoạch, báo cáo, vật tư, nhân sự). Việc ứng dụng công nghệ Web-GIS đã tạo điều kiện cho người quản lý có thể thao tác sử dụng mọi nơi, mọi lúc, trực tiếp trên các thiết bị có kết nối mạng internet như máy tính hoặc điện thoại di động. Cơ sở dữ liệu này cho phép lực lượng quản lý đê cập nhật một cách dễ dàng về hiện trạng các tuyến đê trong tỉnh một cách nhanh chóng và chính xác nhất, giúp chủ động trong công tác quản lý, duy tu, sửa chữa và ứng cứu hộ đê trong mùa lũ.

Với sự hỗ trợ của tiến bộ KHKT, công nghệ thông tin, các dự báo thời tiết, thiên tai ngày càng tốt, các cảnh báo cũng chính xác hơn giúp tỉnh vận hành công tác PCTT theo phương châm “4 tại chỗ” phát huy tối đa tác dụng hiệu quả. Đồng thời, cũng giúp các địa phương xây dựng sớm kịch bản phòng ngừa, ứng phó, khắc phục các thiệt hại do thiên tai gây ra. Do vậy mức độ thiệt hại của tỉnh ta đã giảm hơn trước rất nhiều. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mới, tiên tiến cũng như đẩy mạnh việc hiện đại hóa, tự động hóa các thiết bị kỹ thuật quan trắc tài nguyên và môi trường để nâng cao hiệu quả dự báo, cảnh báo, điều tra, đánh giá, ứng phó với biến đổi khí hậu và PCTT. Nâng cao tính khoa học và tính thực tiễn trong các chương trình, kế hoạch về ứng phó biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, cấp ngành để đạt các mục tiêu về ứng phó biến đổi khí hậu và PCTT. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và PCTT./.

Bài và ảnh: Ngọc Ánh

,
,
.
,
,
,
,